Lâm là nam tài xế taxi đã tạt đầu xe máy, sau đó dẫn đến vụ giết người, bắt cóc nữ nạn nhân ở Láng Hạ, do hung thủ là Lê Văn Thức (SN 1993, Lạng Sơn) thực hiện. Trước đó, khoảng 23h40 ngày 15/9, anh N.T (sinh năm 1995 ở quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) đi xe máy chở chị T
b) Khi phát sinh vấn đề mới cần phải giám định liên quan đến tình tiết của vụ án đã có kết luận giám định trước đó. 2. Việc giám định bổ sung có thể do tổ chức, cá nhân đã giám định hoặc tổ chức, cá nhân khác thực hiện. 3. Việc trưng cầu, yêu cầu giám
Riêng việc thu hồi các khoản thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế thì năm 2022 có sự chuyển biến rất tích cực. Chúng ta đã thu hồi tăng thêm hơn 8.000 tỷ đồng so với năm 2021 và đạt tỷ lệ tương đương trên 414% so với năm 2021./. Lê Sơn
Một sự hiểu biết tương đối chính xác và khách quan về xuất xứ, sự hình thành và những chủ trương căn bản của các chính đảng trong môi trường chính trị dân chủ Tây Phương sẽ giúp chúng ta nhận định khách quan hơn và hóa giải những xung đột không cần thiết, hầu
Tài liệu "Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự và kiến nghị nhằm đảm bảo thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự" có mã là 248654, file định dạng doc, có 10 trang, dung lượng file 97 kb.Tài liệu thuộc chuyên mục: Luận văn đồ án > Luật.
Vay Nhanh Fast Money. 1. Phần khái niệm, nhiệm vụ, nguồn và các nguyên tắc cơ bản2. Phần Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng hình sự3. Phần Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng hình sự4. Phần Biện pháp ngặn chặn trong Luật tố tụng hình sự5. Phần Thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm6. Phần Khởi tố vụ án hình sự7. Nhận định môn Luật tố tụng hình sự Phần Điều tra vụ án hình sự8. Phần Truy tố9. Nhận định môn Luật tố tụng hình sự Phần Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự10. Nhận định môn Luật tố tụng hình sự Phần Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự11. Nhận định môn Luật tố tụng hình sự Phần Xét lại Bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án Giám đốc thẩm, tái thẩm12. Nhận định môn Luật tố tụng hình sự Phần Thủ tục đặc biệt13. Nhận định môn Luật tố tụng hình sự Phần Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự14. Nhận định môn Luật tố tụng hình sự Phần Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự Tuyển tập 216 Câu nhận định môn Luật tố tụng hình sự năm 2015 có đáp án tham khảo được cập nhật liên tục. Bạn có câu nhận định nào cần hỏi, vui lòng để lại bình luận phía cuối bài viết để được giải đáp nhé! [TUYỂN TẬP] Đề thi môn Luật Tố tụng hình sự Việt Nam Nhận định đúng sai Luật Hiến pháp Việt Nam – CÓ ĐÁP ÁN Nhận định Luật Hình sự phần các tội phạm – CÓ ĐÁP ÁN Nhận định môn Pháp luật đại cương – CÓ ĐÁP ÁN TỪ KHÓA Câu hỏi nhận định, Tố tụng hình sự 1. Phần khái niệm, nhiệm vụ, nguồn và các nguyên tắc cơ bản Các nhận định sau đây đúng hay sai? Giải thích tại sao và Nêu rõ căn cứ pháp lý Nếu có? Nhận định Chỉ có Quan hệ pháp luật QHPL tố tụng hình sự TTHS mới mang tính quyền lực nhà nước. Nhận định Sai. Giải thích Ngoài quan hệ pháp luật Tố tụng hình sự thì quan hệ pháp luật tố tụng hành chính cũng mang tính quyền lực nhà nước. Nhận định Nguyên tắc “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo” là nguyên tắc đặc thù mà chỉ Luật TTHS mới có. Nhận định Đúng. Giải thích Bởi vì chỉ có ở Luật tố tụng hình sự mới có việc buộc tội nên bị can, bị cáo mới có quyền bào chữa. Những ngành luật tố tụng khác không có việc buộc tội nên không có bị can, bị cáo, cũng không đặt ra nguyên tắc bào chữa. Xem thêm tài liệu cùng môn học Đề thi môn Luật Tố tụng hình sự Việt Nam 2. Phần Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng hình sự Các nhận định sau đây đúng hay sai? Giải thích tại sao và Nêu rõ căn cứ pháp lý Nếu có? Nhận định Người dưới 14 tuổi không được làm chứng. Nhận định Sai. Giải thích Theo quy định tại khoản 2, Điều 66 BLTTHS năm 2015 quy định về các trường hợp không được làm người làm chứng thì không có quy định nào cấm người dưới 14 tuổi trở thành người làm chứng. Vì vậy, nếu người dưới 14 tuổi không phải là người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn, thì vẫn có thể làm chứng. Căn cứ pháp lý Khoản 2, Điều 66 BLTTHS 2015. Nhận định Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu là người thân thích với người bào chữa trong vụ án đó. Nhận định Đúng. Giải thích Theo quy định tại khoản 3, Điều 49 và khoản 1, Điều 53 BLTTHS 2015 quy định về các trường hợp thay đổi Thẩm phán thì việc Thẩm phán chủ tọa phiên tòa nếu là người thân thích với người bào chữa thì đây được xem là căn cứ rõ ràng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ. Mặc dù, pháp luật hình sự không giải thích thế nào là “căn cứ rõ ràng” tuy nhiên dễ dàng nhận thấy rằng người bào chữa là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo. Vì vậy, việc trong cùng một vụ án, việc Chủ tọa phiên tòa và Người bào chữa là người thân thích với nhau dẫn đến có thể làm Thẩm phán không vô tư khi thực thi nhiệm vụ. Ví dụ Phán quyết có thể không khách quan, có lợi cho bị can, bị cáo,… Căn cứ pháp lý Khoản 3, Điều 49 và khoản 1, Điều 53 BLTTHS 2015. Nhận định Một người có thể tham gia tố tụng với hai tư cách trong vụ án hình sự. Nhận định Đúng. Giải thích Trong vụ án hình sự một người có thể tham gia tố tụng với nhiều tư cách miễn là quyền và nghĩa vụ của các tư cách đó không loại trừ lẫn nhau, vừa có tư cách tham gia vụ án với tư cách bị hại, vừa tham gia với tư cách là bị can. Ví dụ A và B đánh nhau gây thương tích. A phải chịu trách nhiệm hình sự đối với thương tích của B và ngược lại, nhưng lại là bị hại đối với thương tích do B gây ra đối với mình. Một người chỉ bị cấm tham gia tố tụng với nhiều tư cách khi quyền và nghĩa vụ của các tư cách đó đối chọi nhau, loại trừ nhau như Vừa là người tiến hành tố tụng vừa là người tham gia tố tụng. Nhận định Người thân thích của bị hại thì không được tham gia vụ án với tư cách người định giá tài sản trong vụ án đó. Nhận định Đúng. Giải thích Theo quy định tại điểm a, khoản 5, Điều 69 BLTTHS 2015 quy định về các trường hợp người định giá tài sản phải từ chối tham gia tố tụng thì khi là người thân thích của bị hại thì người định giá không được tham gia tố tụng với tư cách là người định giá tài sản. Quy định này nhằm đảm bảo tính khách quan đối với kết quả định giá tài sản. Vì khi là người thân thích của bị hại, dễ dẫn đến trường hợp người định giá sẽ tiến hành định giá tài sản cao hơn thực tế, gây bất lợi cho bị can/bị cáo, làm sai lệch kết quả điều tra vụ án. Cơ sở pháp lý Điểm a, khoản 5, Điều 69 BLTTHS 2015 Nhận định Đương sự trong vụ án hình sự có quyền yêu cầu giám định, định giá tài sản. Nhận định Đúng. Giải thích Theo quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 4 BLTTHS 2015 giải thích về “Đương sự” thì Đương sự trong vụ án hình sự gồm nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Theo quy định tại điểm đ, khoản 2, Điều 63; điểm đ, khoản 2, Điều 64 và điểm c, khoản 2, Điều 65 BLTTHS 2015 quy định về các quyền của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự đương sự thì Đương sự có quyền yêu cầu giám định, định giá tài sản. Cơ sở pháp lý điểm g, khoản 1, Điều 4; điểm đ, khoản 2, Điều 63; điểm đ, khoản 2, Điều 64 và điểm c, khoản 2, Điều 65 BLTTHS 2015. Nhận định Trường hợp Thư ký Tòa án không thể tiếp tục tham gia phiên tòa mà không có người thay thế thì phải hoãn phiên tòa. Nhận định Sai. Giải thích Theo quy định tại khoản 1, Điều 297 BLTTHS 2015 quy định về các trường hợp phải hoãn phiên tòa và đoạn 3, khoản 2, Điều 54 BLTTHS 2015 quy định về việc thay đổi Thư ký Tòa án thì Trường hợp Thư ký Tòa án không thể tiếp tục tham gia phiên tòa mà không có người thay thế thì không phải hoãn phiên tòa mà chỉ tạm ngừng phiên tòa. Cơ sở pháp lý khoản 1, Điều 297 và đoạn 3, khoản 2, Điều 54 BLTTHS 2015. Nhận định Tất cả những người có quyền giải quyết vụ án hình sự đều là những người tiến hành tố tụng. Nhận định Sai. Giải thích Những cơ quan khác không phải cơ quan tiến hành tố tụng như Bộ đội biên phòng, Kiểm lâm, Hải quan, Cảnh sát biển và những cơ quan khác trong Công an nhân dân và Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được quy định tại Điều 111 BLTTHS 2015 cũng có quyền tham gia giải quyết vụ án hình sự theo những trường hợp luật định. Cơ sở pháp lý Điều 111 BLTTHS 2015. Nhận định Tất cả những người tham gia tố tụng có quyền và nghĩa vụ pháp lý trong vụ án hình sự đều có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng. Nhận định Sai Giải thích Theo quy định tại Điều 55 BLTTHS 2015 quy định về người tham gia tố tụng thì có 20 chủ thể được xem là người tham gia tố tụng. Tuy nhiên, chỉ một số chủ thể có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng gồm Bị can điểm g, khoản 2, Điều 60, bị cáo điểm d, khoản 2, Điều 61, bị hại điểm e, khoản 2, Điều 62,… Các chủ thể còn lại không có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng như Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố khoản 1, Điều 56; Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố khoản 1, Điều 57; Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt khoản 1, Điều 58;… Vì vậy không phải tất cả những người tham gia tố tụng có quyền và nghĩa vụ pháp lý trong VAHS đều có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng. Cơ sở pháp lý khoản 1 các Điều 56, 57, 58 BLTTHS 2015. Nhận định Trong mọi trường hợp người bào chữa phải bị thay đổi nếu là người thân thích của người tiến hành tố tụng. Nhận định Sai. Giải thích Căn cứ vào mục 1, phần II, Nghị quyết 03/2004 thì căn cứ vào thời điểm mà người bào chữa tham gia để quyết định thay đổi hoặc không thay đổi. Nếu người bào chữa không tham gia trong các giai đoạn tố tụng ngay từ đầu mà có quan hệ thân thích với người đã và đang tiến hành tố tụng thì sẽ từ chối cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho người được nhờ bào chữa đó. Còn nếu người bào chữa tham gia trong các giai đoạn tố tụng ngay từ đầu thì sẽ được cấp giấy chứng nhận người bào chữa và người bị thay đổi trong trường hợp này là người tiến hành tố tụng có mối quan hệ thân thích với người bào chữa. Như vậy, không phải trong mọi trường hợp, người bào chữa phải bị thay đổi nếu là người thân thích của người tiến hành tố tụng. Cơ sở pháp lý mục 1, phần II, Nghị quyết 03/2004. Nhận định Một người khi thực hiện tội phạm là người chưa thành niên, nhưng khi khởi tố vụ án hình sự đã đủ 18 tuổi thì họ không thuộc trường hợp quy định tại K2 Đ57 BLTTHS. Nhận định Đúng. Giải thích Theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 76 BLTTHS 2015 thì người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi người chưa thành niên mới thuộc trường hợp được chỉ định người bào chữa. Do vậy, khi người bị buộc tội đã đủ 18 tuổi mặc dù khi thực hiện tội phạm có thể là người dưới 18 tuổi thì không thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa nêu trên. Lý giải cho quy định này thì việc pháp luật tố tụng hình sự quy định người dưới 18 tuổi phải có người bào chữa bắt buộc là do người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể chất, tinh thần nên là đối tượng được pháp luật bảo vệ. Ngoài chế định bào chữa bắt buộc, thì việc lấy lời khai hỏi cung người dưới 18 tuổi cũng có nhiều quy định đặc thù so với các chủ thể thông thường. Cơ sở pháp lý điểm b, khoản 1, Điều 76 BLTTHS 2015. Nhận định Trong trường hợp bào chữa bắt buộc quy định tại Điểm b K2 Đ57 BLTTHS, khi bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ yêu cầu thay đổi người bào chữa thì yêu cầu đó luôn được chấp nhận. Nhận định Sai. Giải thích Căn cứ vào Điểm mục 3 phần II Nghị quyết 03/2004 quy định trường hợp yêu cầu thay đổi người bào chữa thì thẩm phán được phân công làm chủ tòa phiên tòa căn cứ vào khoản 2 và khoản 3 Điều 56 BLTTHS 2003, hướng dẫn tại mục 1 phần II nghị quyết để xem xét, quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận. Cơ sở pháp lý Điểm mục 3 phần II Nghị quyết 03/2004, khoản 2 và khoản 3 Điều 56 BLTTHS 2003. Nhận định Người làm chứng có thể là người thân thích của bị can, bị cáo. Nhận định Đúng. Giải thích Theo quy định tại Điều 66 BLTTHS 2015 thì Người làm chứng được hiểu là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng. Mặt khác, trong quy định về các trường hợp không được làm chứng không quy định việc Người làm chứng là người thân thích của bị can, bị cáo không được làm chứng. Do đó, người làm chứng có thể là người thân thích của bị can, bị cáo miễn là biết được các tình tiết có liên quan đến vụ việc, vụ án như nêu trên. Ví dụ Ông A bị B đánh gây thương tích, khi B đánh A thì có sự chứng kiến của C là em ruột của B. Khi Cơ quan điều tra mời C lên làm chứng thì C trở thành người làm chứng trong vụ việc. Cơ sở pháp lý Điều 66 BLTTHS 2015. Nhận định Người phiên dịch và người giám định có thể là người thân thích của bị can bị cáo. Nhận định Sai. Giải thích Theo quy định tại khoản 1, Điều 42; khoản 4, Điều 60 và khoản 3, 4, Điều 61 BLTTHS 2015 quy định về các trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người phiên dịch, người giám định thì trường hợp người phiên dịch và người giám định là người thân thích của bị can, bị cáo thì phải từ chối hoặc bị thay đổi, kể cả trong trường hợp bị can, bị cáo là người bị câm, điếc. Cơ sở pháp lý khoản 1, Điều 42; khoản 4, Điều 60 và khoản 3, 4, Điều 61 BLTTHS 2015 Nhận định Trong mọi trường hợp, thẩm phán, hội thẩm phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu đã được phân công tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm vụ án đó. Nhận định Sai. Giải thích Theo quy định tại khoản 1, Điều 53 và Điều 49 BLTTHS hiện hành quy định về các trường hợp Thẩm phán, Hội thẩm phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi thì trường hợp họ đã tiến hành tố tụng nhưng cũng với vai trò là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân thì không bị thay đổi. Họ chỉ bị thay đổi khi đã tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm với tư cách là Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án trong vụ án đó. Cơ sở pháp lý khoản 1, Điều 53 và Điều 49 BLTTHS 2015. Nhận định Những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích pháp lý trong vụ án đều có quyền nhờ luật sư bào chữa cho mình. Nhận định Sai. Giải thích Theo quy định tại BLTTHS năm 2015 quy định về người tham gia tố tụng, thì chỉ có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mới có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa bởi họ là người bị buộc tội, còn những người tham gia tố tụng khác không có quyền này. Cơ sở pháp lý điểm h, khoản 2, Điều 60, điểm g, khoản 2, Điều 61 BLTTHS năm 2015. Nhận định Khai báo là quyền của người làm chứng. Nhận định Sai. Giải thích Theo quy định tại khoản 3 và 4, Điều 66 BLTTHS 2015 quy định về quyền và nghĩa vụ của người làm chứng thì Khai báo là nghĩa vụ của người làm chứng. Theo đó, Người làm chứng có nghĩa vụ trình bày trung thực những tình tiết mà mình biết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và lý do biết được những tình tiết đó. Trường hợp khai báo gian dối, không trung thực, từ chối, trốn tránh việc khai báo thì có thể bị truy cứu TNHS về “Tội từ chối khai báo” theo Điều 383 BLHS 2015 hoặc “Tội khai báo gian dối” theo Điều 374 BLHS. Cơ sở pháp lý khoản 3 và 4, Điều 66 BLTTHS 2015. Nhận định Người thân thích của thẩm phán không thể tham gia tố tụng với tu cách là người làm chứng trong vụ án đó. Nhận định Sai. Giải thích Theo quy định tại khoản 2, Điều 66 BLTTHS 2015 quy định về các trường hợp không được làm chứng thì không quy định trường hợp người thân thích của Thẩm phán không thể tham gia tố tụng với tư cách làm người làm chứng. Do vậy, trường hợp người thân thích này không phải là người bào chữa của người bị buộc tội, không phải là người có nhược điểm về tinh thần, thể chất hay khả năng nhận thức thì hoàn toàn có thể tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng. Cơ sở pháp lý khoản 2, Điều 66 BLTTHS 2015. Nhận định Thẩm phán và hội thẩm đều phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu là người thân thích với nhau trong cùng một vụ án. Nhận định Sai. Giải thích Theo quy định tại khoản 1, Điều 53 BLTTHS 2015 quy định về các trường hợp thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm thì trường hợp Thẩm phán và Hội thẩm đều là người tiến hành tố tụng trong cùng vụ án đó thì phải từ chối hoặc bị thay đổi. Quy định này được hiểu là chỉ cần 01 trong 02 người Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi chứ không bắt buộc cả 02 người cả Thẩm phán và cả Hội thẩm nhân dân đều phải từ chối hoặc bị thay đổi. Cơ sở pháp lý khoản 1, Điều 53 BLTTHS 2015. Nhận định Chỉ có Kiểm sát viên Viện kiểm sát thực hành quyền công tố mới có quyền trình bày lời buộc tội tại phiên tòa. Nhận định Sai. Giải thích Theo quy định tại khoản 3, Điều 32 BLTTHS 2015 quy định về Bị hại thì trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của bị hại có quyền trình bày lời buộc tội tại phiên tòa. Do đó, không chỉ có Kiểm sát viên mới có quyền trình bày lời buộc tội. Cơ sở pháp lý khoản 3, Điều 32 BLTTHS 2015 Xem thêm nhận định 115 Nhận định Luật Hình sự phần các tội phạm 103 Câu nhận định đúng sai môn Luật thuế Nhận định Người biết được các tình tiết liên quan đến vụ án sẽ không được làm chứng nếu là người bảo vệ quyền lợi ích của người bị hại. Nhận định Sai. Giải thích Theo quy định tại khoản 1, Điều 66 BLTTHS 2015 quy định về các trường hợp không được làm chứng thì không quy định người bảo vệ quyền lợi của bị hại là chủ thể không được làm chứng mà chỉ quy định người bào chữa của người bị buộc tội, người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có nhận thức những tình tiết liên quan đến vụ việc/vụ án hoặc không thể khai báo đúng đắn. Do đó, nếu người bảo vệ quyền, lợi ích của bị hại không đồng thời là người bào chữa của người bị buộc tội, không lâm vào các tình trạng hạn chế nêu trên thì có thể tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng. Cơ sở pháp lý khoản 1, Điều 66 BLTTHS 2015 Nhận định Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trong các phiên tòa xét xử VAHS. Nhận định Sai. Giải thích Theo quy định tại Điều 29 BLTTHS 2015 quy định về Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự thì chỉ người tham gia tố tụng mới có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, trường hợp này cần phải có người phiên dịch. Còn NTHTT bắt buộc phải sử dụng tiếng Việt khi tiến hành tố tụng. Cơ sở pháp lý Điều 29 BLTTHS 2015. Nhận định Tất cả các Cơ quan tiến hành tố tụng đều có quyền khởi tố VAHS và khởi tố bị can. Nhận định Sai. Giải thích Theo quy định tại khoản 1, Điều 34 BLTTHS 2015 thì Cơ quan tiến hành tố tụng gồm có Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Tuy nhiên trong 03 chủ thể trên chỉ có Cơ quan điều tra theo điểm a, khoản 2, Điều 36 và Viện kiểm sát theo điểm b, khoản 2, Điều 41 là chủ thể vừa có thẩm quyền khởi tố vụ án và khởi tố bị can. Còn Tòa án có quyền khởi tố vụ án theo khoản 4, Điều 153 BLTTHS 2015 nhưng không có thẩm quyền khởi tố bị can. Cơ sở pháp lý khoản 1, Điều 34 BLTTHS 2015. Nhận định Tất cả những người tham gia tố tụng có quyền và nghĩa vụ pháp lý trong VAHS đều có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng. Nhận định Sai Giải thích Theo quy định tại Điều 55 BLTTHS 2015 quy định về người tham gia tố tụng thì có 20 chủ thể được xem là người tham gia tố tụng. Tuy nhiên, chỉ một số chủ thể có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng gồm Bị can điểm g, khoản 2, Điều 60, bị cáo điểm d, khoản 2, Điều 61, bị hại điểm e, khoản 2, Điều 62,… Các chủ thể còn lại không có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng như Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố khoản 1, Điều 56; Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố khoản 1, Điều 57; Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt khoản 1, Điều 58;… Vì vậy không phải tất cả những người tham gia tố tụng có quyền và nghĩa vụ pháp lý trong VAHS đều có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng. Cơ sở pháp lý khoản 1 các Điều 56, 57, 58 BLTTHS 2015. Nhận định Trong mọi trường hợp người bào chữa phải bị thay đổi nếu là người thân thích của người tiến hành tố tụng. Nhận định Sai. Giải thích Theo quy định tại khoản 1, Điều 53 BLTTHS 2015 quy định về các trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm thì trong trường hợp Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân người tiến hành tố tụng là người thân thích với người bào chữa thì Thẩm phán hoặc Hội thẩm là người bị thay đổi chứ không phải là người bào chữa. Người bào chữa nếu bắt đầu tham gia bào chữa vào giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố nếu là người thân thích của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã và đang tiến hành tố tụng thì Người bào chữa không được tham gia bào chữa. Cơ sở pháp lý khoản 1, Điều 53 BLTTHS 2015. 3. Phần Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng hình sự Các nhận định sau đây đúng hay sai? Giải thích tại sao và Nêu rõ căn cứ pháp lý Nếu có? Kiến thức về Nguồn chứng cứ? Kiến thức về Vật chứng? Kiến thức về Chứng cứ? Nhận định Lời nhận tội của Bị can, bị cáo là chứng cứ của vụ án hình sự. Nhận định Sai. Giải thích Theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 87 BLTTHS 2015 quy định về Nguồn chứng cứ thì Lời nhận tội Lời khai của bị can, bị cáo chỉ là một nguồn của chứng cứ. Lời khai này không mặc nhiên là chứng cứ mà chỉ là chứng cứ khi thỏa mãn 03 thuộc tính của chứng cứ Tính liên quan, tính khách quan và tính hợp pháp. Trường hợp Lời nhận tội thiếu một trong các thuộc tính trên thì không được xem là chứng cứ. Cơ sở pháp lý điểm b, khoản 1, Điều 87 BLTTHS năm 2015. Nhận định Người thân thích của bị can, bị cáo có thể tham gia tố tụng là người làm chứng trong vụ án. Nhận định Đúng. Giải thích Theo quy định tại khoản 2, Điều 66 BLTTHS 2015 quy định về các trường hợp không được làm chứng thì không quy định việc người thân thích của bị can, bị cáo không được làm chứng. Do đó, nếu người thân thích của bị can, bị cáo người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng thì có thể làm người làm chứng trong vụ án, vụ việc. Cơ sở pháp lý khoản 2, Điều 66 BLTTHS 2015 Nhận định Mọi sự vật tồn tại khách quan mà có liên quan đến vụ án hình sự thì là chứng cứ. Nhận định Sai. Giải thích Căn cứ theo quy định tại Điều 86 BLTTHS năm 2015 thì “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”. Như vậy, theo quy định trên thì chứng cứ phải bao gồm tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp. Nếu một sự vật tồn tại khách quan có liên quan đến vụ án hình sự nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục luật định tính hợp pháp thì không được coi là chứng cứ. Cơ sở pháp lý Điều 86 BLTTHS năm 2015. Nhận định Kết quả thu được từ hoạt động nghiệp vụ trinh sát, đặc tình, sổ đen là chứng cứ. Nhận định Sai. Giải thích Căn cứ theo quy định tại Điều 86 BLTTHS năm 2015 thì Chứng cứ phải đáp ứng đủ cả 02 thuộc tính Tính khách quan, tính liên quan và tình hợp pháp. Đối với kết quả thu được từ hoạt động nghiệp vụ trinh sát, đặc tình, sổ đen, đặc điểm của hoạt động nghiệp vụ này là bí mật, lén lút nên không thỏa mãn được tính hợp pháp được thu thập theo trình tự thủ tục luật định. Do vậy, kết quả thu được tù hoạt động nghiệp vụ trinh sát, đặc tình, sổ đen không được sử dụng làm chứng cứ mà chỉ là căn cứ để định hướng giải quyết vụ án. Cơ sở pháp lý Điều 86 BLTTHS năm 2015. Nhận định Tất cả những người tiến hành tố tụng đều là những người có nghĩa vụ chứng minh vụ án hình sự. Nhận định Sai. Giải thích Theo quy định tại khoản 2, Điều 34 BLTTHS năm 2015 quy định về Người tiến hành tố tụng thì Người tiến hành tố tụng gồm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên. Nhưng không phải tất cả những người trên đều có nghĩa vụ chứng minh vụ án hình sự. Theo quy định tại khoản 1, Điều 47 BLTTHS năm 2015 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thư ký tòa án thì Thư ký tòa án không quy định về nghĩa vụ chứng minh vụ án hình sự. Cơ sở pháp lý khoản 2, Điều 34 BLTTHS năm 2015. Nhận định Kết luận giám định là nguồn chứng cứ có thể thay thế được. Nhận định Đúng. Giải thích Theo quy định tại Điều 210 và Điều 211 BLTTHS năm 2015 quy định về Giám định lại và Giám định bổ sung thì tùy từng trường hợp luật định Kết quả giám định chưa rõ hoặc chưa đầy đủ, các cơ quan tiến hành tố tụng có thể tiến hành giám định bổ sung hoặc giám định lại. Khi đó, kết quả giám định này sẽ là nguồn chứng cứ. Vì vậy, kết luận giám định là nguồn chứng cứ có thể thay thế được. Cơ sở pháp lý Điều 210 và Điều 211 BLTTHS năm 2015. Nhận định Kết luận giám định là chứng cứ trong tố tụng hình sự Nhận định Sai. Giải thích Theo quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 87 BLTTHS 2015 quy định về Nguồn chứng cứ thì Kết luận giám định là một nguồn của chứng cứ. Kết luận giám định không mặc nhiên là chứng cứ mà chỉ là chứng cứ khi thỏa mãn 03 thuộc tính của chứng cứ Tính liên quan, tính khách quan và tính hợp pháp. Trường hợp Kết luận giám định thiếu một trong các thuộc tính trên thì không được xem là chứng cứ. Cơ sở pháp lý Điều 86 và d, khoản 1, Điều 87 BLTTHS năm 2015. Nhận định Lời khai của người bào chữa không phải là nguồn chứng cứ trong TTHS. Nhận định Đúng. Giải thích Theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 87 BLTTHS 2015 quy định về Nguồn chứng cứ thì Lời khai của người bào chữa là một nguồn của chứng cứ. Tuy nhiên, người bào chữa là người bảo vệ quyền và lợi ích của bị can, bị cáo nên lời khai của họ không thỏa mãn thuộc tính khách quan của chứng cứ nên không được xem là chứng cứ. Cơ sở pháp lý điểm b, khoản 1, Điều 87 BLTTHS 2015. Nhận định Lời khai của người tham gia tố tụng là nguồn chứng cứ có thể thay thế được. Nhận định Sai. Giải thích Lời khai của người tham gia tố tụng có thể xem là duy nhất, chính họ là người biết tình tiết sự thật của vụ án do đó không thể lấy lời khai của người này thay thế cho lời khai của người khác. Do đó, lời khai của người tham gia tố tụng là nguồn chứng cứ không thể thay thế được. Nhận định Vật chứng là nguồn chứng cứ không thể thay thế được. Nhận định Đúng. Giải thích Theo quy định tại Điều 89 BLTTHS 2015 quy định về Vật chứng thì “Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”. Như vậy, vật chứng chứa đựng sự thật của vụ án do đó không thể thay thế được. Cơ sở pháp lý Điều 89 BLTTHS 2015. Nhận định Vật chứng chỉ có thể trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp khi vụ án đã được giải quyết xong. Nhận định Sai. Giải thích Theo quy định tại điểm b, khoản 3, Điều 106 BLTTHS 2015 quy định về việc xử lý vật chứng thì Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan, người có thẩm quyền có thể trả lại ngay vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án. Do đó, không phải chỉ khi vụ án đã được giải quyết xong thì vật chứng mới có thể trả lại cho chủ sở hữu. Cơ sở pháp lý điểm b, khoản 3, Điều 106 BLTTHS 2015 Nhận định Thư ký tòa án có quyền chứng minh trong vụ án hình sự. Nhận định Sai. Giải thích Theo quy định tại khoản 1, Điều 47 BLTTHS 2015 quy định về Nhiệm vụ, quyền hạn của Thư ký Tòa án thì không quy định Thư ký Tòa án có quyền hay nghĩa vụ phải chứng minh trong vụ án hình sự. Cơ sở pháp lý khoản 1, Điều 47 BLTTHS 2015 4. Phần Biện pháp ngặn chặn trong Luật tố tụng hình sự Để học tập hiệu quả, hãy ôn tập lại kiến thức trước khi làm bài nhé! Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự theo BLTTHS 2015 Nhận định Khi cần áp dụng biện pháp cưỡng chế với người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể quyết định áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với người đại diện ấy. Nhận định Sai. Bởi vì Khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế với người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thì chỉ được áp dụng các biện pháp do luật quy định bao gồm các biện pháp áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản. Còn tạm hoãn xuất cảnh là một trong các biện pháp ngăn chặn, không phải là một biện pháp cưỡng chế nên không được áp dụng để cưỡng chế với người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Căn cứ pháp lý Điều 124 và Điều 126 BLTTHS 2015. Nhận định Biện pháp tạm giam có thể áp dụng cho bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng. Nhận định Đúng. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 419 BLTTHS 2015 quy định về việc Áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế thì Trường hợp bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không phải là biện pháp tạm giam không hiệu quả thì có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam. Do đó, biện pháp tạm giam có thể áp dụng cho bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng. Căn cứ pháp lý khoản 1 Điều 419 BLTTHS 2015. Nhận định Biện pháp ngăn chặn chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ Điều 109 BLTTHS 2015 quy định về biện pháp ngăn chặn thì Các biện pháp ngăn chặn bao gồm Giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh,… thì biện pháp bắt người trong trường hợp quả tang, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người bị yêu cầu dẫn độ là các biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người không phải là bị can, bị cáo. Riêng biện pháp tạm giữ thì có thể áp dụng đối với người là bị can, bị cáo bắt người bị truy nã hoặc áp dụng đối với người không phải là bị can, bị cáo bị tạm giữ trong trường hợp giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Căn cứ pháp lý Các Điều 109,110,111,112 và 117 BLTTHS 2015. Nhận định VKS có quyền áp dụng tất cả các biện pháp ngăn chặn trong TTHS. Nhận định Sai. Đối với các biện pháp ngăn chặn bắt người phạm tội quả tang, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì VKS không độc lập áp dụng mà biện pháp bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan điều tra thực hiện, còn bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì CQĐT đề nghị, VKS phê chuẩn áp dụng. Ví dụ Những người có thẩm quyền ra lệnh giữ người quy định tại khoản 2 Điều 110 của BLTTHS có quyền ra quyết định tạm giữ. Theo đó, thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp tạm giữ không có Viện kiểm sát. Căn cứ pháp lý khoản 2 Điều 110 của BLTTHS 2015. Nhận định Viện kiểm sát không có quyền hủy bỏ Biện pháp ngăn chặn trái pháp luật của Tòa án. Nhận định Đúng. Bởi vì Trong trường hợp việc áp dụng biện pháp ngăn chặn của Tòa án là không có căn cứ hoặc trái pháp luật thì Viện kiểm sát không có quyền hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đó mà chỉ có quyền kháng nghị đến Chánh án của Tòa án nhân dân ra quyết định áp dụng để thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn trái pháp luật. Nhận định Biện pháp tạm giữ vẫn có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo. Nhận định Đúng. Bởi vì Biện pháp tạm giữ vẫn có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo trong trường hợp bị can, bị cáo bị tạm giữ sau khi bị bắt truy nã. Căn cứ pháp lý Khoản 1 Điều 59 và khoản 1 Điều 117 BLTTHS 2015 Nhận định Thời hạn tạm giữ không được tính vào thời hạn tạm giam. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 118 BLTTHS 2015 về Thời hạn tạm giữ thì “Thời gian tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam. Một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam”. Vì vậy, thời hạn tạm giữ được tính vào thời hạn tạm giam. Căn cứ pháp lý khoản 4 Điều 118 BLTTHS 2015. Nhận định Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp có quyền ra quyết định tạm giữ. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 117 BLTTHS quy định về Tạm giữ thì Những người có thẩm quyền ra lệnh giữ người quy định tại khoản 2 Điều 110 của BLTTHS có quyền ra quyết định tạm giữ. Theo đó, chủ thể quyết định tạm giữ không quy định Viện kiểm sát nhân dân. Vì vậy, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp không có quyền ra quyết định tạm giữ. Căn cứ pháp lý khoản 2 Điều 117 và khoản 2 Điều 110 của BLTTHS 2015. Nhận định Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú không áp dụng đối với người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 123 BLTTHS 2015 quy định về Cấm đi khỏi nơi cư trú thì Biện pháp cư trú áp dụng đối với người có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng. Theo đó, nếu người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng ví dụ Cư trú, sinh sống tại Việt Nam thì có thể được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Căn cứ pháp lý khoản 1 Điều 123 BLTTHS 2015 Nhận định Biện pháp bảo lĩnh chỉ áp dụng cho bị cáo là người chưa thành niên. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại Điều 121 BLTTHS 2015 quy định về các điều kiện áp dụng biện pháp Bảo lĩnh thì không có quy định Bảo lĩnh chỉ được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi. Điều này có nghĩa là Chủ thể có thể bị áp dụng biện pháp bảo lĩnh là chủ thể thường, người chưa thành niên dưới 18 tuổi và người đã thành niên từ đủ 18 tuổi đều có thể bị áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Căn cứ pháp lý Điều 121 BLTTHS 2015. Nhận định Biện pháp bảo lĩnh chỉ áp dụng cho bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại Điều 121 BLTTHS 2015 quy định về các điều kiện áp dụng biện pháp Bảo lĩnh thì không có quy định Bảo lĩnh chỉ được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng. Theo đó, bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng cũng có thể bị áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Căn cứ pháp lý Điều 121 BLTTHS 2015. Nhận định Mọi quyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm đều phải được Viện trưởng VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 122 BLTTHS 2015 quy định về biện pháp Đặt tiền để bảo đảm thì Người có thẩm quyền của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thể quyết định áp dụng Đặt tiền để bảo đảm. Tuy nhiên, chỉ có quyết định áp dụng biện pháp Đặt tiền để bảo đảm của CQĐT thì VKS mới cần phải được Viện trưởng VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Các trường hợp khác không cần phải phê chuẩn trước khi thi hành. Căn cứ pháp lý khoản 3 Điều 122 BLTTHS 2015. Nhận định Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản để đảm bảo được áp dụng không phụ thuộc vào việc bị can, bị cáo phạm loại tội gì. Nhận định Đúng. Bởi vì Mặc dù theo quy định tại khoản 1 Điều 122 BLTTHS 2015 xác định điều kiện áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản để đảm bảo là phải căn cứ vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, tuy nhiên lại không quy định về loại tội phạm không được áp dụng. Vì vậy, về lý luận biện pháp Đặt tiền hoặc tài sản để đảm bảo có thể được áp dụng đối với cả 04 loại tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Căn cứ pháp lý khoản 1 Điều 122 BLTTHS 2015. Nhận định Không được áp dụng biện pháp bảo lĩnh đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Nhận định Sai. Bởi vì Mặc dù theo quy định tại khoản 1 Điều 121 BLTTHS 2015 xác định điều kiện áp dụng biện pháp Bảo lĩnh là phải căn cứ vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, tuy nhiên lại không quy định về loại tội phạm không được áp dụng. Vì vậy, về lý luận biện pháp Bảo lĩnh có thể được áp dụng đối với cả 04 loại tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Căn cứ pháp lý khoản 1 Điều 121 BLTTHS 2015. Nhận định Lệnh bắt người của Cơ quan điều tra trong mọi trường hợp đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Nhận định Sai. Bởi vì Trường hợp Tòa án nhân dân, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định áp dụng biện pháp bắt tạm giam thì Cơ quan điều tra thực hiện theo quyết định của Tòa án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Việc áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp này không cần phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Nhận định Tất cả các trường hợp bắt người đều phải có lệnh. Nhận định Sai. Bởi vì Trong các trường hợp bắt người gồm Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; Bắt người trong trường hợp khẩn cấp; Bắt người phạm tội quả tang; Bắt người phạm tội đang bị truy nã thì trường hợp bắt người phạm tội quả tang, bắt người phạm tội truy nã không phải có lệnh của Cơ quan có thẩm quyền. Căn cứ pháp lý Điều 111, 112, 113 BLTTHS 2015. Nhận định Tất cả các lệnh tạm giam đều phải được viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Nhận định Sai. Bởi vì Biện pháp tạm giam có thể do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo, nhưng chỉ trường hợp Lệnh tạm giam do Cơ quan điều tra quyết định thì mới cần phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát phê chuẩn trước khi thi hành. Trường hợp Viện kiểm sát tự quyết định áp dụng hoặc Tòa án áp dụng thì không phải phê chuẩn trước khi thi hành. Căn cứ pháp lý khoản 5 Điều 119 BLTTHS 2015. Nhận định Biện pháp tạm giam không được áp dụng đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 419 BLTTHS 2015 quy định về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi thì Chỉ áp dụng biện pháp tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi khi có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả. Theo đó, trường hợp xét thấy biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả ví dụ Bị can bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi cư trú nhưng tiếp tục phạm tội, thì bị áp dụng biện pháp tạm giam. Căn cứ pháp lý khoản 1 Điều 419 BLTTHS 2015. Nhận định Biện pháp tạm giam không được áp dụng đối với bị can, bị cáo là phụ nữ đang mang thai, người già yếu. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 119 BLTTHS 2015 thì về nguyên tắc bị can, bị cáo là phụ nữ đang mang thai, người già yếu không bị áp dụng biện pháp tạm giam mà có thể được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. Tuy nhiên, nếu người này bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc tiếp tục phạm tội,… thì bị áp dụng biện pháp tạm giam. Căn cứ pháp lý khoản 4 Điều 119 BLTTHS 2015. Nhận định Biện pháp tạm giam được áp dụng đối với mọi loại tội phạm. Nhận định Sai. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 119 BLTTHS 2015 thì trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng nhưng có nơi cư trú rõ ràng không bỏ trốn hoặc bị bắt theo quyết định truy nã hoặc tiếp tục phạm tội… thì không được áp dụng biện pháp tạm giam. Do đó, Biện pháp tạm giam không được áp dụng đối với mọi loại tội phạm. Căn cứ pháp lý khoản 2 và khoản 3 Điều 119 BLTTHS 2015. Nhận định Người chưa thành niên chỉ bị tạm giam khi họ phạm tội rất nghiêm trọng. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 1, Điều 419 BLTTHS 2015 thì áp dụng biện pháp tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi khi có căn cứ cho rằng việc áp dụng biện pháp giám sát và các biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả mà không quy định loại tội phạm khi áp dụng biện pháp tạm giam đối với người dưới 18 tuổi. Theo đó, mặc dù người dưới 18 tuổi phạm tội là loại tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng nhưng lại tiếp tục phạm tội, bỏ trốn và bị bắt truy nã thì vẫn áp dụng biện pháp tạm giam. Căn cứ pháp lý khoản 1 Điều 419 BLTTHS 2015. Nhận định Trong mọi trường hợp việc hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn đã được áp dụng đều phải do Viện kiểm sát quyết định. Nhận định Sai. Bởi vì Chỉ các biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn hoặc tự áp dụng thì việc hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn đó mới phải do Viện kiểm sát quyết định hủy bỏ hoặc thay thế. Trường hợp biện pháp ngăn chặn do CQĐT tự áp dụng mà không cần phê chuẩn ví dụ Cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc biện pháp ngăn chặn do Tòa án áp dụng thì Viện kiểm sát không có thẩm quyền quyết định hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn đó. Nhận định Khám xét là một trong các biện pháp ngăn chặn. Nhận định Sai. Bởi vì Khám xét là một trong các biện pháp điều tra nhằm mục đích phát hiện, thu thập chứng cứ, chứ không phải là biện pháp ngăn chặn. Căn cứ theo quy định tại Điều 109 thì Biện pháp ngăn chặn chỉ bao gồm Giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh. Các trường hợp bắt người gồm bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ. Căn cứ pháp lý Điều 109 BLTTHS 2015. Nhận định Cơ quan điều tra có quyền thay đổi biện pháp ngăn chặn. Nhận định Sai. Bởi vì Cơ quan điều tra chỉ có quyền thay đổi các biện pháp ngăn chặn không cần VKS phê chuẩn trước khi thi hành. Trường hợp các biện pháp ngăn chặn cần VKS phê chuẩn trước khi thi hành hoặc các biện pháp ngăn chặn do VKS, Tòa án tự áp dụng thì CQĐT không có quyền thay đổi. 5. Phần Thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm Để học tập hiệu quả, hãy đọc các bài viết dưới đây trước khi làm bài nhé! Kiến thức về Nguồn tin về tội phạm Nhận định Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 155 BLTTHS 2015 quy định về khởi tố VAHS theo yêu cầu của bị hại thì về trường hợp bị hại hoặc người đại diện của bị hại tự nguyện rút đơn yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại. Tuy nhiên, trường hợp bị hại hoặc người đại diện của bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố do bị ép buộc, cưỡng bức thì có quyền yêu cầu khởi tố lại. Căn cứ pháp lý khoản 3 Điều 155 BLTTHS 2015. Nhận định Thủ trưởng Cơ quan điều tra có quyền gia hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Nhận định Sai. Bởi vì Thẩm quyền gia hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo do Viện kiểm sát nhân dân quyết định dựa trên đề nghị của Cơ quan điều tra. Theo đó, Thủ trưởng Cơ quan điều tra xét thấy cần thêm thời hạn thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm do có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì ban hành Công văn đề nghị Viện kiểm sát quyết định gia hạn. Căn cứ pháp lý khoản 2 Điều 147 BLTTHS 2015. Nhận định Một số hoạt động điều tra có thể tiến hành trước khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự. Nhận định Đúng. Bởi vì Theo quy định tại khoản 3, Điều 147 BLTTHS 2015 quy định về các hoạt động điều tra như Khám nghiệm tử thi, khám nghiệm hiện trường, trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản… có thể được tiến hành khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Nói cách khác, Cơ quan điều tra có thể tiến hành một số hoạt động điều tra trước khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự. Căn cứ pháp lý khoản 3 Điều 147 BLTTHS 2015. Nhận định Mọi hành vi phạm tội do cán bộ thuộc cơ quan tư pháp thực hiện đều do Cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao khởi tố vụ án. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 153 BLTTHS 2015 thì Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Dẫn chiếu quy định tại điểm c, khoản 3 Điều 145 BLTTHS 2015 thì Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục. Theo đó, việc khởi tố vụ án đối với hành vi phạm tội do cán bộ thuộc cơ quan tư pháp thực hiện nhưng không liên quan đến hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục Ví dụ Điều tra viên tham gia Đánh bạc thì không thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát cụ thể là Cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Căn cứ pháp lý khoản 3 Điều 153 và khoản 3 Điều 145 BLTTHS 2015. Nhận định Trong mọi trường hợp việc khởi tố vụ án hình sự không phụ thuộc vào ý chí của người bị hại. Nhận định Sai. Bởi vì Theo quy định tại khoản 1 Điều 155 BLTTHS 2015 thì trong một số trường hợp luật định thì việc khởi tố vụ án hình sự phải dựa trên yêu cầu ý chí của người bị hại. Trong những trường hợp này, nếu người bị hại không yêu cầu hoặc tự nguyện rút yêu cầu thì không được khởi tố vụ án hình sự. Do đó, không phải mọi trường hợp việc khởi tố vụ án hình sự không phụ thuộc vào ý chí của người bị hại. Căn cứ pháp lý khoản 1 Điều 155 BLTTHS 2015. Nhận định Khởi tố theo yêu cầu của người bị hại chỉ áp dụng đối với tội ít nghiêm trọng. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 155 BLTTHS 2015 thì tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 BLHS 2015 thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại. Trong đó, khoản 1 Điều 141 BLHS 2015 là tội phạm nghiêm trọng. Do đó, Khởi tố theo yêu cầu của người bị hại không chỉ áp dụng đối với tội ít nghiêm trọng. Căn cứ pháp lý khoản 1 Điều 155 BLTTHS 2015 và khoản 1 Điều 141 BLHS 2015. Nhận định Tố giác tội phạm của cá nhân, cơ quan, tổ chức là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại Điều 143 BLTTHS 2015 quy định về các căn cứ khởi tố vụ án hình sự thì chỉ tố giác của cá nhân mới là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự, còn tố giác của cơ quan, tổ chức không là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự mà tin báo của cơ quan, tổ chức mới là căn cứ khởi tố vụ án hình sự. Căn cứ pháp lý Điều 143 BLTTHS 2015. Nhận định Hội đồng xét xử có thể thực hiện đồng thời việc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố và tự mình khởi tố vụ án đó. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 153 BLTTHS 2015 quy định về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự thì Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm. Theo đó hoặc là Hội đồng xét xử yêu cầu VKS khởi tố hoặc tự mình khởi tố vụ án hình sự chứ không thể vừa yêu cầu VKS khởi tố và vừa tự mình khởi tố vụ án. Căn cứ pháp lý khoản 4 Điều 153 BLTTHS 2015. Nhận định Hoạt động chứng minh tội phạm chỉ được thực hiện sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự của cơ quan có thẩm quyền. Nhận định Sai. Bởi vì Theo quy định của pháp luật, các hoạt động điều tra đều là các hoạt động chứng minh tội phạm. Theo quy định tại khoản 3 Điều 147 BLTTHS 2015 thì một số hoạt động điều tra được tiến hành khi giải quyết nguồn tin về tội phạm bao gồm Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, trưng cầu giám định, yêu cầu định giá,… Nói cách khác, hoạt động chứng minh tội phạm không chỉ được thực hiện sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự mà còn được thực hiện ngay cả ở giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm. Căn cứ pháp lý khoản 3 Điều 147 BLTTHS 2015. Nhận định Trong mọi trường hợp, căn cứ khởi tố vụ án hình sự là dấu hiệu tội phạm. Nhận định Đúng. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại Điều 143 BLTTHS 2015 thì chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Do vậy, trong mọi trường hợp, việc khởi tố vụ án hình sự phải căn cứ vào dấu hiệu tội phạm. Nếu không có dấu hiệu tội phạm thì không được khởi tố vụ án hình sự. Căn cứ pháp lý Điều 143 BLTTHS 2015. Nhận định Khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, Viện kiểm sát có quyền hủy bỏ mọi quyết định không khởi tố không có căn cứ của các cơ quan có thẩm quyền. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 161 BLTTHS 2015 quy định về Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự thì trường hợp Hội đồng xét xử khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ thì VKS không được hủy bỏ quyết định không khởi tố không có căn cứ đó mà kháng nghị lên Tòa án trên một cấp để hủy bỏ quyết định không khởi tố không có căn cứ đó. Căn cứ pháp lý điểm c khoản 1 Điều 161 BLTTHS 2015. Nhận định Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố VAHS thì có quyền thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án không có căn cứ. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 156 BLTTHS 2015 thì trường hợp quyết định khởi tố vụ án không có căn cứ thì Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố VAHS ra quyết định thay đổi, còn trường hợp có căn cứ xác định còn tội phạm khác chưa bị khởi tố thì mới ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án. Nói cách khác, trường hợp có căn cứ xác định còn tội phạm khác chưa bị khởi tố thì không được quyền thay đổi quyết định khởi tố vụ án. Căn cứ pháp lý khoản 1 Điều 156 BLTTHS 2015. Nhận định Người bị tố giác đã bồi thường thiệt hại cho người tố giác là căn cứ ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại Điều 157 BLTTHS 2015 quy định về các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự thì không quy định trường hợp người bị tố giác đã bồi thường thiệt hại cho người tố giác là căn cứ quyết định không khởi tố VAHS. Vì vậy, người bị tố giác đã bồi thường thiệt hại cho người tố giác không là căn cứ ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Căn cứ pháp lý Điều 157 BLTTHS 2015. Nhận định Nguồn tin về tội phạm là kiến nghị khởi tố. Nhận định Sai. Bởi vì Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 4 BLTTHS 2015 quy định về Giải thích từ “Nguồn tin về tội phạm” thì Nguồn tin về tội phạm gồm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, cá nhân, lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện. Do vậy, Nguồn tin về tội phạm không phải là kiến nghị khởi tố mà kiến nghị khởi tố là Nguồn tin về tội phạm. Căn cứ pháp lý điểm d khoản 1 Điều 4 BLTTHS 2015. Nhận định Chỉ có cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động điều tra mới có quyền tiếp nhận nguồn tin về tội phạm. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 146 BLTTHS 2015 thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Vì vậy, không chỉ có cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động điều tra mới có quyền mà Viện kiểm sát cũng có quyền tiếp nhận nguồn tin về tội phạm. Căn cứ pháp lý khoản 1 Điều 146 BLTTHS 2015. Nhận định Viện kiểm sát có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 145 BLTTHS 2015 thì Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục. Theo đó, trong các trường hợp khác, thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm trong các trường hợp này. Căn cứ pháp lý điểm c khoản 3 Điều 145 BLTTHS 2015. 6. Phần Khởi tố vụ án hình sự Để học tập hiệu quả, hãy đọc các bài viết dưới đây trước khi làm bài nhé! Kiến thức phần Khởi tố vụ án hình sự Nhận định Khi Viện kiểm sát cùng cấp yêu cầu chuyển vụ án mà Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát tự mình chuyển vụ án. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 169 BLTTHS 2015 thì Khi Viện kiểm sát cùng cấp yêu cầu chuyển vụ án mà Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát quyết định việc chuyển vụ án chứ không tự mình chuyển vụ án. Căn cứ pháp lý điểm d khoản 1 Điều 169 BLTTHS 2015. Nhận định Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền khởi tố bị can đối với những vụ án do mình tiến hành điều tra. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 39 BLTTHS 2015 thì Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền khởi tố bị can đối với những vụ án phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng. Theo đó Trường hợp vụ án không thuộc trường hợp phạm tội quả tang hoặc chứng cứ hoặc lý lịch người phạm tội không rõ ràng thì Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không có thẩm quyền khởi tố bị can. Căn cứ pháp lý điểm b khoản 2 Điều 39 BLTTHS 2015. Nhận định Quan hệ pháp luật tố tụng hình sự có thể xuất hiện trước khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự. Nhận định Đúng. Bởi vì Quan hệ pháp luật tố tụng hình sự phát sinh từ khi cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện các hoạt động tố tụng hình sự như thực hiện các hoạt động điều tra khám nghiệm tử thi, khám nghiệm hiện trường, trưng cầu giám định, yêu cầu định giá,…. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 147 BLTTHS 2015 thì các hoạt động điều tra này có thể được thực hiện ở giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm trước khi quyết định khởi tố vụ án hình sự. Do đó, Quan hệ pháp luật tố tụng hình sự có thể xuất hiện trước khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự. Căn cứ pháp lý khoản 3 Điều 147 BLTTHS 2015. Nhận định Chỉ có cơ quan tiến hành tố tụng mới có thẩm quyền khởi tố bị can. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 34 BLTTHS 2015 thì Cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Mặt khác, căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 39 BLTTHS 2015 thì Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền khởi tố bị can đối với những vụ án phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng. Nói cách khác, mặc dù Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không phải là cơ quan tiến hành tố tụng nhưng vẫn có thẩm quyền khởi tố bị can. Vì vậy Không chỉ có cơ quan tiến hành tố tụng mới có thẩm quyền khởi tố bị can. Căn cứ pháp lý khoản 1 Điều 34 BLTTHS 2015. Nhận định Tất cả các Cơ quan tiến hành tố tụng đều có quyền khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 34 BLTTHS 2015 thì Cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Trong đó, cả 03 cơ quan này có quyền khởi tố vụ án hình sự nhưng chỉ có Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có quyền khởi tố bị can, Tòa án không có quyền khởi tố bị can. Căn cứ pháp lý khoản 1 Điều 34, điểm a khoản 2 Điều 36 và điểm b khoản 2 Điều 41 BLTTHS 2015 Nhận định Viện kiểm sát chỉ có quyền khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp đã yêu cầu nhưng Cơ quan điều tra không khởi tố. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại đoạn 2 khoản 4 Điều 179 BLTTHS năm 2015 quy định về khởi tố bị can thì trường hợp sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra nếu Viện kiểm sát phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm trong vụ án chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can và trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung mà không cần phải yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố bị can. Căn cứ pháp lý đoạn 2 khoản 4 Điều 179 BLTTHS năm 2015. Nhận định Khi quyết định khởi tố bị can phải luôn kèm theo việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị can đó. Nhận định Sai. Bởi vì Trong BLTTHS 2015 không quy định khi quyết định khởi tố bị can phải luôn kèm theo việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị can đó mà tùy trường hợp xét thấy có căn cứ và cần thiết áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị can để đảm bảo điều tra, truy tố, xét xử thì mới áp dụng biện pháp ngăn chặn. Trong trường hợp xét thấy không cần thiết hoặc bị can đang trong tình trạng không thể gây ảnh hưởng đến công tác điều tra, truy tố, xét xử thì không cần áp dụng biện pháp ngăn chặn. Ví dụ Bị can bị khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng đang bị tạm giam trong một vụ án khác về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Nhận định Trường hợp Viện kiểm sát không đồng ý phê chuẩn Quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra thì ra Quyết định không phê chuẩn Quyết định khởi tố bị can. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 179 BLTTHS năm 2015 quy định về khởi tố bị can thì Trường hợp VKS đồng ý phê chuẩn Quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát ra Quyết định phê chuẩn QĐ KTBC, còn trường hợp không đồng ý phê chuẩn Quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát không ra Quyết định không phê chuẩn Quyết định khởi tố bị can mà ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can. Căn cứ pháp lý khoản 3 Điều 179 BLTTHS năm 2015. Để học tập hiệu quả, hãy đọc các bài viết dưới đây trước khi làm bài nhé! Kiến thức phần Điều tra vụ án hình sự Nhận định Khi Cơ quan điều tra cấp trên rút vụ án để điều tra thì Cơ quan điều tra cấp dưới phải chuyển ngay vụ án cho Cơ quan điều tra cấp trên. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 169 BLTTHS 2015 quy định về Chuyển vụ án thì trường hợp Cơ quan điều tra cấp trên rút vụ án để điều tra thì Viện kiểm sát quyết định việc chuyển vụ án. Từ đó, Cơ quan điều tra cấp dưới căn cứ vào quyết định chuyển vụ án của Cơ quan điều tra cấp trên thực hiện chuyển vụ án chứ không phải là chuyển ngay vụ án khi được Cơ quan điều tra cấp trên rút vụ án để điều tra. Căn cứ pháp lý điểm b khoản 1 Điều 169 BLTTHS 2015. Nhận định Thời hạn điều tra bổ sung được xác định căn cứ theo loại tội phạm. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 174 BLTTHS 2015 quy định về Thời hạn điều tra bổ sung thì căn cứ để xác định thời hạn điều tra bổ sung không phải dựa trên loại tội phạm mà dựa trên cơ quan ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trường hợp VKS trả hồ sơ điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra không quá 02 tháng. Trường hợp Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra không quá 01 tháng. Căn cứ pháp lý khoản 2 Điều 174 BLTTHS 2015. Nhận định Trong mọi trường hợp, quân nhân phạm tội đều do Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân tiến hành điều tra. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 2, Điều 163 BLTTHS 2015 quy định về Thẩm quyền điều tra thì Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự. Căn cứ theo quy định tại Điều 272 BLTTHS 2015 quy định về Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử đối với vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu, tội phạm xảy ra trong địa bàn thiết quân luật, tội phạm liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của quân nhân tại ngũ… Trường hợp quân nhân thực hiện tội phạm không thuộc các trường hợp trên thì do Tòa án nhân dân giải quyết. Căn cứ pháp lý khoản 2, Điều 163, Điều 272 BLTTHS 2015. Nhận định Trong mọi trường hợp khi Cán bộ ngành tư pháp thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm hoạt động tư pháp đều do Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiến hành điều tra. Nhận định Sai. Bởi vì Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ có thẩm quyền điều tra trong trường hợp điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV của Bộ luật hình sự xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp. Do đó, trường hợp Cán bộ ngành tư pháp thực hiện hành vi phạm tội nhưng không thuộc các loại tội phạm trên thì không thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT VKSNDTC. Căn cứ pháp lý Khoản 3 Điều 163 BLTTHS 2015. Nhận định Tất cả các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án đều có thẩm quyền điều tra vụ án đó. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 153 BLTTHS quy định về Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự thì trong một số trường hợp nhất định Viện kiểm sát và Hội đồng xét xử có quyền khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, căn cứ theo quy định tại Điều 163 BLTTHS 2015 thì Viện kiểm sát trừ CQĐT thuộc VKSNDTC và Hội đồng xét xử không có thẩm quyền điều tra. Vì vậy, không phải tất cả các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án đều có thẩm quyền điều tra vụ án đó. Căn cứ pháp lý khoản 3 Điều 153 và Điều 163 BLTTHS 2015. Nhận định Tất cả các cơ quan có thẩm quyền điều tra vụ án đều có quyền khởi tố bị can. Nhận định Đúng. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 163 BLTTHS 2015 quy định về thẩm quyền điều tra thì Các cơ quan có thẩm quyền điều tra bao gồm Cơ quan điều tra của Công an nhân dân, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 36 BLTTHS 2015 thì Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra có thẩm quyền quyền quyết định khởi tố bị can. Vì vậy, tất cả các cơ quan có thẩm quyền điều tra vụ án đều có quyền khởi tố bị can. Căn cứ pháp lý khoản 1, 2 và 3 Điều 163 và điểm a khoản 2 Điều 36 BLTTHS 2015. Nhận định Các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được quyền khởi tố bị can. Nhận định Sai. Bởi vì Không phải mọi trường hợp cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đều được khởi tố bị can mà chỉ trong trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng thuộc trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng thì Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mới được khởi tố bị can, còn các trường hợp khác không được khởi tố bị can. Căn cứ pháp lý khoản 2 Điều 39 BLTTHS 2015. Nhận định Hội đồng xét xử không được quyền ra quyết định khởi tố bị can. Nhận định Đúng. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại Điều 179 BLTTHS 2015 quy định về Khởi tố bị can thì thẩm quyền khởi tố bị can chỉ thuộc về Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có quyền ra quyết định khởi tố bị can. Căn cứ pháp lý Điều 179 BLTTHS 2015. Nhận định Tất cả các hoạt động điều tra chỉ được tiến hành sau khi có quyết định khởi tố bị can. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 147 BLTTHS 2015 quy định về việc giải quyết nguồn tin về tội phạm thì ngay ở giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm trước khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì Cơ quan điều tra có thể tiến hành một số hoạt động điều tra như Khám nghiệm tử thi, khám nghiệm hiện trường, trưng cầu giám định, yêu cầu định giá,… Do vậy, không phải tất cả các hoạt động điều tra chỉ được tiến hành sau khi có quyết định khởi tố bị can. Căn cứ pháp lý khoản 3 Điều 147 BLTTHS 2015. Nhận định Việc ủy thác điều tra chỉ được tiến hành giữa các Cơ quan điều tra với nhau. Nhận định Đúng. Bởi vì Theo quy định tại khoản 1 Điều 171 BLTTHS 2015 quy định về Ủy thác điều tra thì trong trường hợp cần thiết thì Cơ quan điều tra ủy thác cho Cơ quan điều tra khác tiến hành một số hoạt động điều tra. Theo đó, vệc ủy thác điều tra chỉ được tiến hành giữa các Cơ quan điều tra với nhau. Căn cứ pháp lý khoản 1 Điều 171 BLTTHS 2015. Nhận định Trong mọi trường hợp kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra đều phải ra bản kết luận điều tra. Nhận định Đúng. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 232 BLTTHS 2015 quy định về Kết thúc điều tra thì khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra phải ra bản kết luận điều tra. Khi Kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra. Căn cứ pháp lý khoản 1 Điều 232 BLTTHS 2015. Nhận định Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra cho sao chụp hồ sơ vụ án trong giai đoạn tạm đình chỉ điều tra. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 82 BLTTHS 2015 quy định về việc ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án thì Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra cho sao chụp hồ sơ vụ án khi vụ án đã kết thúc điều tra. Vì vậy, nếu vụ án mới chỉ tạm đình chỉ điều tra chưa kết thúc điều tra thì không có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra cho sao chụp hồ sơ vụ án. Căn cứ pháp lý khoản 1 Điều 82 BLTTHS 2015. Nhận định Trong giai đoạn tạm đình chỉ điều tra, Cơ quan điều tra có quyền ra quyết định trưng cầu giám định. Nhận định Sai. Bởi vì Về nguyên tắc các hoạt động điều tra chỉ được tiến hành trong thời hạn điều tra mà trưng cầu giám định là hoạt động điều tra nên chỉ được thực hiện trong thời hạn điều tra. Vì vậy, trong giai đoạn tạm đình chỉ điều tra thì không được thực hiện trưng cầu giám định nhưng được thu thập kết quả trưng cầu giám định theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 229 BLTTHS 2015. Căn cứ pháp lý điểm c khoản 1 Điều 229 BLTTHS 2015. Nhận định Thời hạn gia hạn điều tra đối với tội ít nghiệm trọng là không quá 2 tháng. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 174 BLTTHS 2015 quy định về thời hạn phục hồi điều tra thì trường hợp gia hạn điều tra trong trường hợp phục hồi điều tra thì thời hạn gia hạn điều tra đối với tội ít nghiêm trọng là không quá 01 tháng. Căn cứ pháp lý điểm a khoản 1 Điều 174 BLTTHS 2015. Nhận định Người chứng kiến là người biết được tình tiết vụ án nhưng không được triệu tập để trở thành người làm chứng. Nhận định Sai. Bởi vì Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 67 BLTTHS 2015 quy định về các trường hợp không được làm Người chứng kiến thì một người không được làm người chứng kiến khi có lý do khác cho thấy người đó không khách quan. Xét thấy nếu Người chứng kiến là người biết được tình tiết vụ án thì sẽ không đảm bảo tính khách quan nên khi một người biết được tình tiết vụ án mặc dù không được triệu tập để trở thành người làm chứng thì cũng không thể trở thành người chứng kiến. Căn cứ pháp lý điểm d khoản 2 Điều 67 BLTTHS 2015. Nhận định Mọi hoạt động điều tra đều phải lập thành biên bản. Nhận định Đúng. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại Điều 178 BLTTHS 2015 quy định về Biên bản điều tra thì Khi tiến hành hoạt động điều tra, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản theo quy định tại Điều 133 BLTTHS 2015. Căn cứ pháp lý Điều 133, 178 BLTTHS 2015 Nhận định Trong mọi trường hợp, khi khám xét phải có lệnh khám xét. Nhận định Đúng. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại Điều 193, 194 và 195 BLTTHS 2015 thì việc khám xét cả trong trường hợp thông thường và trường hợp khẩn cấp, khám xét người hay chỗ ở, nơi làm việc đều phải có lệnh khám xét. Nói cách khác, trong mọi trường hợp, khi khám xét phải có lệnh khám xét. Căn cứ pháp lý Điều 193, 194 và 195 BLTTHS 2015. Nhận định Lệnh khám xét bao giờ cũng phải được VKS phê chuẩn trước khi thực hiện. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 193 BLTTHS 2015 quy định về hoạt động khám xét thì trong trường hợp khẩn cấp thì cơ quan điều tra ra lệnh khám xét. Lệnh khám xét trong trường hợp này không cần phải được VKS phê chuẩn trước khi thi hành. Tuy nhiên, người có thẩm quyền ra lệnh khám xét trong trường hợp này phải thông báo việc khám xét bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp biết. Căn cứ pháp lý khoản 2 Điều 193 BLTTHS 2015. Nhận định Đối chất chỉ được áp dụng với những người có tư cách tố tụng giống nhau. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại Điều 189 BLTTHS 2015 quy định về Đối chất thì trong trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai người hay nhiều người mà đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn thì Điều tra viên tiến hành đối chất. Theo đó, pháp luật không quy định những người có tư cách tố tụng giống nhau mới được tiến hành đối chất nên những người có tư cách tố tụng khác nhau cũng có thể tiến hành đối chất. Ví dụ Bị hại và bị cáo tiến hành đối chất về số lượng tài sản bị chiếm đoạt. Căn cứ pháp lý Điều 189 BLTTHS 2015. Nhận định Đối chất chỉ được tiến hành khi cần làm rõ những mâu thuẫn trong vụ án. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại Điều 189 BLTTHS 2015 quy định về Đối chất thì mục đích của hoạt động đối chất là nhằm giải quyết các mâu thuẫn trong quá trình điều tra. Tuy nhiên, không quy định cấm tiến hành đối chất nếu không có mâu thuẫn trong vụ án. Vì vậy, kể cả khi vụ án không có mâu thuẫn thì vẫn có thể tiến hành đối chất. Căn cứ pháp lý Điều 189 BLTTHS 2015. Nhận định Chỉ được tiến hành hoạt động nhận dạng và đối chất khi đã khởi tố vụ án hình sự. Nhận định Đúng. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 147 BLTTHS 2015 quy định về các hoạt động điều tra mà Cơ quan điều tra có quyền tiến hành trong giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm chỉ có các hoạt động Khám nghiệm tử thi, khám nghiệm hiện trường, trưng cầu giám định, trưng cầu định giá, thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đế kiểm tra, xác minh nguồn tin, mà không quy định hoạt động nhận dạng và đối chất. Do đó, hoạt động điều tra nhận dạng và đối chất chỉ được tiến hành khi vụ án đã được khởi tố. Căn cứ pháp lý khoản 3 Điều 147 BLTTHS 2015. Nhận định Hoạt động khám nghiệm hiện trường chỉ do Cơ quan điều tra thực hiện. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 39 BLTTHS 2015 thì trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng thì Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tổ chức hoạt động khám nghiệm hiện trường. Vì vậy, không chỉ có Cơ quan điều tra mà Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng có thẩm quyền khám nghiệm hiện trường. Căn cứ pháp lý điểm c khoản 2 Điều 39 BLTTHS 2015. Nhận định Những người có thẩm quyền ra lệnh khám xét thì có quyền ra lệnh kê biên tài sản. Nhận định Đúng. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 193 BLTTHS 2015 quy định về thẩm quyền quyết định khám xét thì người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 BLTTHS 2015 có quyền ra lệnh khám xét. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 128 BLTTHS 2015 thì người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra lệnh kê biên tài sản. Theo đó, những người có thẩm quyền ra lệnh khám xét thì có quyền ra lệnh kê biên tài sản. Căn cứ pháp lý khoản 1 Điều 193 và khoản 1 Điều 113 BLTTHS 2015. Nhận định Trong mọi trường hợp, CQĐT phải ra quyết định phục hồi điều tra khi có căn cứ hủy bỏ quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra. Nhận định Sai. Bởi vì Theo quy định tại khoản 1 Điều 235 BLTTHS 2015 quy định về Phục hồi điều tra thì chỉ trong trường hợp chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì khi có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định tạm đình chỉ điều tra thì Cơ quan điều tra ra quyết định phục hồi điều vậy, không phải mọi trường hợp, CQĐT đều phải ra quyết định phục hồi điều tra khi có căn cứ hủy bỏ quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra. Căn cứ pháp lý khoản 1 Điều 235 BLTTHS 2015. Nhận định Trong vụ án có bị can bỏ trốn, Cơ quan điều tra phải ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, sau đó ra quyết định truy nã bị can. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 229 BLTTHS 2015 quy định về tạm đình chỉ điều tra thì trường hợp không biết rõ bị can đang ở đâu, Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ điều tra. Theo đó, Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã bị can trước khi ra quyết định tạm đình chỉ chứ không phải ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, sau đó ra quyết định truy nã bị can. Căn cứ pháp lý điểm a khoản 1 Điều 229 BLTTHS 2015. 8. Phần Truy tố Để học tập hiệu quả, hãy đọc các bài viết dưới đây trước khi làm bài nhé! Kiến thức phần Truy tố Nhận định Kiểm sát viên có quyền tiến hành một số hoạt động điều tra trong giai đoạn truy tố. Nhận định Đúng. Bởi vì Theo quy định tại khoản 4, Điều 124 và khoản 3 Điều 236 BLTTHS 2015 thì nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố hoặc khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra thì Kiểm sát viên có thể trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra. Ví dụ Trực tiếp tiến hành thực nghiệm điều tra. Căn cứ pháp lý khoản 3 Điều 236 BLTTHS 2015. Nhận định Trong mọi trường hợp thời hạn tạm giam để điều tra luôn ngắn hơn thời hạn điều tra. Nhận định Sai. Nhận định Trong giai đoạn truy tố, khi phát hiện thiếu chứng cứ buộc tội, Viện kiểm sát có quyền trả hồ sơ yêu cầu Cơ quan điều tra điều tra bổ sung vụ án. Nhận định Sai. Bởi vì Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 236 BLTTHS 2015 quy định về Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố thì trong trường hợp phát hiện thấy thiếu chứng cứ buộc tội nhưng Viện kiểm sát có thể tự bổ sung được thì VKS không trả hồ sơ yêu cầu CQĐT điều tra bổ sung mà tự tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố. Căn cứ pháp lý khoản 3 Điều 236 BLTTHS 2015. Nhận định Viện kiểm sát chỉ được truy tố bị can bằng bản Cáo trạng. Nhận định Sai. Bởi vì Về nguyên tắc, Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can bằng bản Cáo trạng. Tuy nhiên, trong trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn thì việc quyết định truy tố bị can được thực hiện bằng Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn. Căn cứ pháp lý Điều 243 BLTTHS 2015. Nhận định Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát phát hiện bị can bỏ trốn thì trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra và truy nã bị can. Nhận định Sai. Trong thời hạn 9. Nhận định môn Luật tố tụng hình sự Phần Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Để học tập hiệu quả, hãy đọc các bài viết dưới đây trước khi làm bài nhé! Kiến thức phần Xét xử sơ thẩm Nhận định Khi vụ án chưa được đưa ra xét xử nhưng thấy vụ án không thuộc thẩm quyền của mình thì Tòa án phải chuyển ngay cho Tòa án có thẩm quyền xét xử. Nhận định Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ mọi biện pháp ngăn chặn. Nhận định Khi Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải tuyên bị cáo không phạm tội đối với phần cáo trạng bị rút. Nhận định Rút quyết định truy tố là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Nhận định Tại phiên tòa, Kiểm sát viên có quyền bổ sung quyết định truy tố đối với bị cáo. Nhận định Kiểm sát viên có quyền tiến hành hỏi cung bị can cho dù bị can đã chuyển sang giai đoạn xét xử. Nhận định Mọi quyết định của Hội đồng xét xử đều phải thảo luận, thông qua phòng nghị án và được lập thành văn bản. Nhận định Sau khi Kiểm sát viên vừa công bố Cáo trạng mà bị cáo có đơn kêu oan, thì Chủ tọa phiên tòa phải để cho Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa tiến hành xét hỏi bị cáo trước. Nhận định Thông qua xét xử tại phiên tòa, khi nhận thấy vụ án có bỏ lọt tội phạm, thì Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Nhận định Khi luật sư bào chữa chỉ định cho bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố về tội phạm có khung hình phạt là chung thân hoặc tử hình vắng mặt tại phiên tòa, thì Hội đồng xét xử phải quyết định hoãn phiên tòa. Nhận định Khi Tòa án ra quyết định trả hồ sơ yêu cầu VKS thay đổi quyết định truy tố bị can về tội danh nhẹ hơn, thì Viện kiểm sát phải ra văn bản chuyển trả hồ sơ cho Tòa án và yêu cầu Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định. Nhận định Tại phiên tòa Kiểm sát viên có thể bổ sung truy tố tố bị cáo thêm bất kỳ điểm nào trong khoản của điều luật mà Viện kiểm sát đã sử dụng để truy tố bị cáo. Nhận định Trong mọi trường hợp, Hội đồng xét xử phải cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tranh luận tại phiên tòa. Nhận định Nếu thấy cần thiết và được Hội đồng xét xử cho phép, bị cáo có quyền hỏi các bị cáo khác tại phiên tòa sơ thẩm. Nhận định Hội đồng xét xử không có quyền ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Nhận định Bị cáo có quyền đề nghị HĐXX hỏi thêm những vấn đề mà bị cáo cho rằng cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Nhận định Khi bị cáo vắng mặt tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải ra quyết định hoãn phiên tòa. Nhận định Khi bị hại hoặc nhân chứng vắng mặt tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải ra quyết định hoãn phiên tòa. Nhận định Khi KSV hoặc thành viên HĐXX bị thay đổi thì phải hoãn phiên tòa. Nhận định Khi Luật sư bào chữa vắng mặt tại phiên tòa thì HĐXX phải quyết định hoãn phiên tòa. Nhận định Khi bị cáo được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng, thì Hội đồng xét xử có quyền tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo. Nhận định Vụ án khởi tố theo yêu cầu người bị hại, thì người bị hại có quyền tranh luận với bị cáo và Luật sư bào chữa cho bị cáo nếu có. Nhận định Bị cáo có quyền hỏi người tham gia tố tụng khác khi được Chủ tọa phiên tòa cho phép. Nhận định Khi KSV đề nghị hoãn phiên Tòa thì Hội đồng xét xử phải hoãn theo đề nghị của Kiểm sát viên. Nhận định Khi bị cáo có dấu hiệu hoảng loạn tại phiên tòa thì Kiểm sát viên có quyền đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa. Nhận định Sau khi kết thúc phần tranh luận, người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo bỏ ra về thì phải tạm ngừng phiên tòa. Nhận định Trong mọi trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị bản án hình sự sơ thẩm thì Viện kiểm sát đang thực hiện chức năng kiểm sát xét xử. Nhận định Tòa án sơ thẩm có thể xét xử bị cáo theo tội danh nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố. Nhận định Tòa án cấp huyện có quyền xét xử tất cả các tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng. Nhận định Tòa án nhân dân cấp huyện không được tuyên bị cáo quá 15 năm tù. Nhận định Tòa án nhân dân chỉ được xét xử các vụ án do dân thường phạm tội. Nhận định Tòa án cấp sơ thẩm không được quyền xét xử bị cáo theo tội danh khác với tội danh VKS đã truy tố. Nhận định Mọi trường hợp chuyển vụ án cho Tòa án khác chỉ áp dụng khi vụ án chưa được đưa ra xét xử. Nhận định Trong một số trường hợp, Tòa án có quyền xét xử vắng mặt bị cáo. Nhận định Đối với bị cáo không bị tam giam nhưng bị xử phạt tù thì Hội đồng xét xử phải ra quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay sau khi tuyên án Nhận định Trường hợp, hình phạt Tòa tuyên ngắn hơn hoặc bằng thời hạn bị cáo bị tạm giam thì bị cáo được trả tự do ngay tại phiên tòa. Nhận định Khi tuyên án, tất cả những người có mặt trong phòng xử án đều phải đứng dậy. Nhận định Chỉ những người tiến hành tố tụng mới được quyền tham gia xét hỏi tại phiên tòa. 10. Nhận định môn Luật tố tụng hình sự Phần Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự Để học tập hiệu quả, hãy đọc các bài viết dưới đây trước khi làm bài nhé! Kiến thức phần Xét xử phúc thẩm Nhận định Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo phần Bản án hoặc quyết định sơ thẩm. Nhận định Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo rút kháng cáo, nếu xét thấy không còn kháng cáo, kháng nghị nào đối với bản án sơ thẩm thì Hội đồng xét xử phải đình chỉ việc xét xử phúc thẩm cho dù nhận thấy cấp sơ thẩm xét xử đã gây oan, sai cho bị cáo. Nhận định KSV tham gia thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại phiên tòa có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị phúc thẩm. Nhận định Khi nhận thấy quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Tòa án cấp phúc thẩm không có cơ sở thì Viện kiểm sát có quyền hủy bỏ quyết định đó. Nhận định Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có mối quan hệ thân thích với Kiểm sát viên đang thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án đó thì phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi. Nhận định Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền xem xét thêm những phần khác của Bản án và những bị cáo không có kháng cáo, kháng nghị. Nhận định Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo về phần bồi thường thiệt hại. Nhận định Viện kiểm sát rút kháng nghị phúc thẩm trước khi mở phiên tòa, thì Tòa án cấp phúc thẩm phải đình chỉ xét xử phúc thẩm. Nhận định Người kháng cáo có quyền bổ sung kháng cáo tại phiên tòa phúc thẩm. Nhận định Nhận thấy kháng nghị phúc thẩm của VKS cấp dưới không đầy đủ về những vi phạm của Tòa án sơ thẩm, thì VKS cấp trên có quyền bổ sung kháng nghị. Nhận định Khi VKS kháng nghị phúc thẩm tại phiên tòa, thì HĐXX phúc thẩm sẽ không xem xét những nội dung liên quan đến kháng nghị ấy. Nhận định Thư ký Tòa án phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Thẩm phán. Nhận định Phúc thẩm là thủ tục bắt buộc trong việc giải quyết vụ án hình sự. Nhận định Trong mọi trường hợp, người kháng cáo vắng mặt thì HĐXX phúc thẩm phải hoãn phiên tòa. Nhận định Tòa án nhân dân cấp cao chỉ có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án hình sự. Nhận định Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể xem xét phần bản án không bị kháng cáo, kháng nghị. Nhận định Trong một số trường hợp, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án theo hướng tuyên bị cáo về tội nặng hơn tội Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên. 11. Nhận định môn Luật tố tụng hình sự Phần Xét lại Bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án Giám đốc thẩm, tái thẩm Để học tập hiệu quả, hãy đọc các bài viết dưới đây trước khi làm bài nhé! Kiến thức về Giám đốc thẩm Kiến thức về Tái thẩm Nhận định Xét về bản chất tái thẩm và giám đốc thẩm là 02 thủ tục giống nhau. Nhận định Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chỉ có quyền y bản án hoặc hủy bản án để điều tra, xét xử lại hoặc xét xử lại mà không có quyền sửa bản án. Nhận định Một vụ án có thể vừa có căn cứ giám đốc thẩm, vừa có căn cứ để tái thẩm. Nhận định Chỉ có Viện kiểm sát nhân dân cấp cao mới có thẩm quyền đề nghị giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm. 12. Nhận định môn Luật tố tụng hình sự Phần Thủ tục đặc biệt Nhận định Việc khiển trách đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải có sự chứng kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người đó. Nhận định Khi tiến hành lấy lời khai của người dưới 18 tuổi phạm tội không nhất thiết phải có sự có mặt của người giám hộ trong mọi trường hợp. Nhận định Nếu người dưới 18 tuổi phạm tội từ chối luật sư tham gia bào chữa thì không phải mời luật sư tham gia bảo vệ quyền và lợi ích của họ. 13. Nhận định môn Luật tố tụng hình sự Phần Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự Nhận định Mọi khiếu nại về Điều tra viên trong giai đoạn điều tra đều do Thủ trưởng Cơ quan điều tra giải quyết. Nhận định Sai phạm của Điều tra viên, Cán bộ điều tra chỉ bị khiển trách, kỷ luật hoặc buộc thôi việc. 14. Nhận định môn Luật tố tụng hình sự Phần Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự Nhận định Cơ quan đầu mối ở trung ương về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Like Fanpage tại Trên đây là tuyển tập câu hỏi nhận định môn Luật tố tụng hình sự năm 2015. Bạn có nhận định cần hỏi, vui lòng để lại phần bình luận để nhận được tư vấn, giải đáp nhé!
Đương sự là cụm từ xuất hiện thường xuyên trong Bộ luật Tố tụng Dân sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hành chính. Vậy, đương sự là gì?Câu hỏi Khi nhắc đến các vụ việc liên quan đến pháp luật, em thấy nhiều người dùng từ đương sự. Vậy, đương sự là gì?1. Đương sự là gì trong tố tụng dân sự?Hiện nay, khái niệm đương sự xuyên suốt các quy định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bộ luật này cũng đưa ra hai khái niệm về đương sự như sauĐiều 68. Đương sự trong vụ việc dân sự1. Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên sự trong việc dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên thế, có thể hiểu, đương sự là những người tham gia trong các vụ án dân sự/việc dân sự tại Tòa án nhân dân về các lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình... Họ có thể là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên hiểu chi tiết khái niệm đương sự, cần đi tìm hiểu các đối tượng nêu trên, họ là ai? Nguyên đơn trong tố tụng dân sự là gì?Theo Bộ luật Tố tụng Dân sự2. Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm thể hiểu đơn giản, nguyên đơn trong vụ án dân sự là người tham gia tố tụng với tư cách là người khởi kiện vụ án dân sự. Việc khởi kiện này có thể nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, hoặc bảo vệ lợi ích côhg cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực phụ trách hoặc...Việc tham gia tố tụng dân sự của nguyên đơn mang tính chủ động, là người trực tiếp yêu cầu giải quyết vụ án dân sự đó. Trong hoạt động tố tụng dân sự, hoạt động tố tụng của nguyên đơn có thể dẫn đến việc làm phát sinh, thay đổi hay đình chỉ tố tụng. Đương sự là gì trong tố tụng dân sư, hành chính...? Ảnh minh họa Người yêu cầu giải quyết việc dân sự là gì?5. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự là người yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao hạn, hai bên vợ cồng yêu cầu Tòa án công nhận việc thuận tình ly cũng tham gia tốt tụng dân sự với tư cách là người chủ động yêu cầu. Tuy nhiên, không khởi kiện ai và cũng không cần bảo vệ lợi ích nào... Bị đơn trong tố tụng dân sự là gì?Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về bị đơn trong tố tụng dân sự như sau3. Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm vậy, bị đơn trong vụ án dân sự là người bị kiện. Họ tham gia tố tụng mang tính bắt buộc, bị động. Trong các vụ án dân sự, bị đơn bị tham gia với tư cách là người xâm phậm đến quyền, lợi ích của nguyên đơn hoặc tranh chấp với nguyên đơn có thể cung cấp tài liệu, chứng cứ; chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đồng thời, nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ thì bị đơn có quyền yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình. Nếu không thể tự mình thu thập chứng cứ, bị đơn có thể đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ việc hoặc đề nghị Tòa án yêu cầu đương sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang giữ... Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là gì?Bộ luật Tố tụng Dân sự cũng định nghĩa về người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự như sau4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự là người tuy không yêu cầu giải quyết việc dân sự nhưng việc giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc đương sự trong việc dân sự đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên Đương sự trong tố tụng hành chínhTheo Bộ luật Tố tụng Hành chính7. Đương sự bao gồm người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên đó, người khởi kiện có thể là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án hành chính. Việc khởi kiện xảy ra đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, danh sách cử tri trưng cầu ý dân...Và, người bị kiện là những người, tổ chức... có quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, danh sách cử tri bị cá nhân, cư quan, tổ chức khởi kiện...Đương sự là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong tố tụng hành chính là cơ quan, tổ chức, cá nhân không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án hành chính có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của Đương sự trong tố tụng hình sựĐương sự trong vụ án hình sự gồm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân một vụ án hình sự, có rất nhiều vấn đề liên quan, kể cả liên quan đến các yếu tố dân việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự và vụ án hình sự liên quan mật thiết đến nhau thì việc cùng giải quyết có thể đáp ứng được tính chính xác, khách quan, toàn diện. Vì thế, để giải quyết chung hai khía cạnh dân sự và hình sự trong một vụ án hình sự thì đòi hỏi các bên phải tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình vậy, một trong những nguyên tắc quan trọng của Bộ luật Tố tụng Hình sự là giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình đây là giải đáp thắc mắc đương sự là gì? Nếu bạn còn có thêm vướng mắc, có thể gửi câu hỏi cho chúng tôi để được hỗ trợ.
Đương sự có được đồng thời làm người phiên dịch trong cùng một vụ án hình sự hay không? Tôi có câu hỏi liên quan đến người phiên dịch trong vụ án hình sự cần được giải đáp. Tôi là Mai Ngọc, tôi muốn biết trong vụ án hình sự đương sự có được đồng thời làm người phiên dịch hay không? Người phiên dịch có quyền và nghĩa vụ như thế nào? Đương sự trong vụ án hình sự bao gồm những ai? Người phiên dịch là ai? Quyền của người phiên dịch trong tố tụng hình sự được quy định như thế nào? Đương sự có được làm người phiên dịch trong cùng một vụ án hình sự hay không? Đương sự trong vụ án hình sự bao gồm những ai?Căn cứ theo điểm g khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, đương sự trong vụ án hình sự bao gồm- Nguyên đơn dân sự;- Bị đơn dân sự;- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình phiên dịch là ai?Tại khoản 1 Điều 70 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, quy định về người phiên dịch cụ thể như sau“1. Người phiên dịch, người dịch thuật là người có khả năng phiên dịch, dịch thuật và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt hoặc có tài liệu tố tụng không thể hiện bằng tiếng Việt.”Theo đó, người có khả năng phiên dịch và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt hoặc có tài liệu tố tụng không thể hiện bằng tiếng Việt được gọi là người phiên sự có được làm người phiên dịch hay không?Quyền của người phiên dịch trong tố tụng hình sự được quy định như thế nào?Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 70 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, quy định về người phiên dịch, người dịch thuật cụ thể như sau“2. Người phiên dịch, người dịch thuật có quyềna Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;b Đề nghị cơ quan yêu cầu bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;c Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc phiên dịch, dịch thuật;d Được cơ quan yêu cầu chi trả thù lao phiên dịch, dịch thuật và các chế độ khác theo quy định của pháp Người phiên dịch, người dịch thuật có nghĩa vụa Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;b Phiên dịch, dịch thuật trung thực. Nếu phiên dịch, dịch thuật gian dối thì người phiên dịch, người dịch thuật phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự;c Giữ bí mật điều tra mà mình biết được khi phiên dịch, dịch thuật;d Phải cam đoan trước cơ quan đã yêu cầu về việc thực hiện nghĩa vụ của mình.[...]”Như vậy, người phiên dịch có những quyền và nghĩa vụ sau đây1 Quyền của người phiên dịch- Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định;- Đề nghị cơ quan yêu cầu bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;- Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc phiên dịch, dịch thuật;- Được cơ quan yêu cầu chi trả thù lao phiên dịch, dịch thuật và các chế độ khác theo quy định của pháp luật.2 Nghĩa vụ của người phiên dịch- Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;- Phiên dịch, dịch thuật trung thực. Nếu phiên dịch, dịch thuật gian dối thì người phiên dịch, người dịch thuật phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự;- Giữ bí mật điều tra mà mình biết được khi phiên dịch, dịch thuật;- Phải cam đoan trước cơ quan đã yêu cầu về việc thực hiện nghĩa vụ của mìnhĐương sự có được làm người phiên dịch trong cùng một vụ án hình sự hay không?Theo khoản 4 Điều 70 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, quy định về người phiên dịch, người dịch thuật như sau“4. Người phiên dịch, người dịch thuật phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợpa Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;b Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản trong vụ án đó;c Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó.”Theo đó, người phiên dịch phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp sau- Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;- Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản trong vụ án đó;- Đã tiến hành tố tụng trong vụ án vậy, căn cứ theo quy định nêu trên, đương sự không được làm người phiên dịch trong cùng một vụ án hình sự. Trường hợp người phiên dịch đồng thời là đương sự thì phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi.
” Vụ án” không còn là một khái niệm quá xa lạ với tất cả mọi người, bởi lẽ khi nhắc đến vụ án là nhắc đến những tranh chấp, xung đột xảy ra trong các mối quan hệ xã hội, trong các lĩnh vực như dân sự, hình sự, kinh doanh thương mại, lao động… Tuy nhiên vẫn còn có những sự nhầm lẫn giữa vụ án và vụ việc hay vụ án dân sự vụ án hình sự dẫn đến những hậu quả khó lường. Vì vậy cần phải có những tiêu chí đặt ra để làm dấu hiệu nhận biết phân biệt vụ án dân sự và vụ án hình sự. Tổng đài Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 Vụ án là một vụ việc có dấu hiệu trái pháp luật mang tính chất hình sự hoặc tranh chấp giữa các chủ thể pháp luật được đưa ra tòa án hoặc cơ quan trọng tài giải quyết. Vụ án tên tiếng Anh là “Case”. 2. Phân biệt giữa vụ án hình sự và vụ án dân sự Về luật áp dụng – Vụ án hình sự Luật áp dụng là Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự – Vụ án dân sự Luật áp dụng là Bộ luật Dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự Về quan hệ pháp luật bị vi phạm – Vụ án hình sự quan hệ pháp luật bị vi phạm là các quan hệ sau chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, lợi ích của Nhà nước, tổ chức, trật tự pháp luật được pháp luật hình sự bảo vệ – Vụ án dân sự quan hệ pháp luật bị vi phạm là các quan hệ sau các quan hệ giữa các chủ thể hình thành trên cơ sở bình đẳng, tự do ý chí, độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm được pháp luật dân sự bảo vệ Về cơ quan tiến hành tố tụng – Vụ án hình sự gồm có Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát; Tòa án. – Vụ án dân sự gồm có Tòa án; Viện kiểm sát. * Về người tiến hành tố tụng – Vụ án hình sự những người tiến hành tố tụng gồm có Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên. – Vụ án dân sự những người tiến hành tố tụng gồm có Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án; Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên. Về nghĩa vụ chứng minh – Vụ án hình sự Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. – Vụ án dân sự Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự Về quá trình tố tụng – Vụ án hình sự Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm khởi tố vụ án xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội. – Vụ án dân sự Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán ra thông báo thụ lý vụ án. Về người tham gia tố tụng – Vụ án hình sự người tham gia tố tụng gồm có + Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố; + Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; + Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; + Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị hại; + Đương sự Nguyên đơn dân sự; Bị đơn dân sự; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; + Người làm chứng, người chứng kiến; + Người giám định; + Người định giá tài sản; + Người phiên dịch, người dịch thuật; + Người bào chữa; + Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự; + Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố; + Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phạm tội, người đại diện khác. – Vụ án dân sự người tham gia tố tụng bao gồm + Đương sự Nguyên đơn; Bị đơn; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Người yêu cầu giải quyết việc dân sự; + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự; + Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; + Người làm chứng; + Người giám định; + Người phiên dịch; + Người đại diện. Về thỏa thuận – Vụ án hình sự Người bị buộc tội không có quyền thỏa thuận với các chủ thể tham gia tố tụng khác. – Vụ án dân sự Đương sự có quyền thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Về người bào chữa – Vụ án hình sự Người bị buộc tội nhờ hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định những người sau làm người bào chữa + Luật sư; + Người đại diện của người bị buộc tội; + Bào chữa viên nhân dân; + Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý. Tùy từng trường hợp người bào chữa vắng mặt mà Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc tiếp tục xét xử. Người bào chữa chỉ định vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. – Vụ án dân sự Đương sự Nguyên đơn; Bị đơn; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Người yêu cầu giải quyết việc dân sự; + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự; + Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; + Người làm chứng; + Người giám định; + Người phiên dịch; + Người đại diện. Các giai đoạn tố tụng – Vụ án hình sự Khởi tố- điều tra- truy tố- xét xử sơ thẩm- xét xử phúc thẩm nếu có- thi hành án- giám đốc thẩm, tái thẩm nếu có – Vụ án dân sự Thụ lý vụ án- xét xử sơ thẩm- xét xử phúc thẩm nếu có- thi hành án- giám đốc thẩm, tái thẩm nếu có Về thời hiệu – Vụ án hình sự thời hiệu truy cứ trách nhiệm hình sự + Tội phạm ít nghiêm trọng 05 năm + Tội phạm nghiêm trọng 10 năm + Tội phạm rất nghiêm trọng 15 năm + Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng 20 năm – Vụ án dân sự thời hiệu để yêu cầu Tòa án giải quyết + Giao dịch dân sự vô hiệu 02 năm + Tranh chấp hợp đồng 03 năm + Bồi thường thiệt hại 03 năm + Chia di sản 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản. + Xác nhận quyền thừa kế của người yêu cầu hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác 10 năm + Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại 03 năm Các biện pháp tố tụng – Vụ án hình sự áp dụng các biện pháp ngăn chặn giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh; Các biện pháp cưỡng chế áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản. – Vụ án dân sự áp dụng các biện pháp pháp khẩn cấp tạm thời + Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. + Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng. + Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm. + Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động. + Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động. + Kê biên tài sản đang tranh chấp. + Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp. + Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp. + Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác. + Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ. + Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ. + Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định. + Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ. + Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình. + Tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu. + Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án. Ngoài ra cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể dẫn giải người làm chứng. Thay đổi quyết định truy tố, yêu cầu – Vụ án hình sự Kiểm sát viên có thể rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn. – Vụ án dân sự Đương sự có quyền tự nguyện rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình Hậu quả pháp lý – Vụ án hình sự Tòa án có thể buộc bị cáo chịu một trong các hình phạt đồng thời với hình phạt bổ sung sau + Hình phạt chính bao gồm Cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình. + Hình phạt bổ sung bao gồm Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính; trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính. Sau khi thi hành án người bị kết án phải chịu án tích trong thời hạn nhất định . Đối với vấn đề dân sự được giải quyết chung với vụ án hình sự bị đơn dân sự phải bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn dân sự – Vụ án dân sự Bên thua kiện bị buộc phải thực hiện một trong các nghĩa vụ sau + Chấm dứt hành vi xâm phạm + Xin lỗi, cải chính công khai + Thực hiện nghĩa vụ + Bồi thường thiệt hại Người có quyền kháng cáo – Vụ án hình sự + Bị cáo, bị hại, người đại diện của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm. + Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà mình bào chữa. + Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại. + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ. + Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ. + Người được Tòa án tuyên không có tội có quyền kháng cáo về các căn cứ mà bản án sơ thẩm đã xác định là họ không có tội. – Vụ án dân sự Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Phạm vi xét xử phúc thẩm – Vụ án hình sự Tòa án cấp phúc thẩm xem xét phần nội dung của bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết, có thể xem xét các phần khác của bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị. – Vụ án dân sự Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị. Phạm vi giám đốc thẩm, tái thẩm – Vụ án hình sự Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm phải xem xét toàn bộ vụ án mà không chỉ hạn chế trong nội dung của kháng nghị. – Vụ án dân sự + Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ xem xét lại phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị. + Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm có quyền xem xét phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị, nếu phần quyết định đó xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án. Thủ tục đặc biệt – Vụ án hình sự Là những thủ tục tố tụng dành cho những chủ thể đặc biệt bao gồm + Người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng là người dưới 18 tuổi + Pháp nhân bị tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố, bị điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án – Vụ án dân sự Không có thủ tục này Án phí – Vụ án hình sự Án phí gồm án phí sơ thẩm, phúc thẩm hình sự, án phí sơ thẩm, phúc thẩm dân sự trong vụ án hình sự. Tiền tạm ứng án phí bao gồm tiền tạm ứng án phí sơ thẩm và tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. – Vụ án dân sự Án phí bao gồm án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm.
Trang chủ / Khác / Luật sư Nguyễn Đức Hoàng trả lời đương sự trong vụ án hình sự gồm những ai?Luật sư Nguyễn Đức Hoàng trả lời đương sự trong vụ án hình sự gồm những ai?Đương sự trong vụ án hình sự bao gồm những chủ thể nào?Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự là ai?Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bao gồm những ai?Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án hình sựQuyền của nguyên đơn dân sựQuyền của bị đơn dân sựQuyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quanKính chào Luật sư tố tụng, tôi có vấn đề mong được giải đáp như sauTôi đang theo dõi vụ kiện khá nổi tiếng thông qua các phương tiện truyền thông. Tuy nhiên tôi chưa xác định rõ được đương sự trong vụ án hình sự gồm những ai? Họ có những quyền lợi cũng như nghĩa vụ như thế nào trong quá trình tố tụng? Kính mong các luật sư có thể giải thích chân thành cảm ơn!Đương sự trong vụ án hình sự là ai?Xem thêm>> Làm sao xác định vô ý phạm tội?>> Tìm hiểu về phạm tội có tính chất chuyên nghiệp>> Làm sao để biết hành vi phạm tội có phải tội phạm?Trả lờiPhan Law Vietnam gửi lời chào đến bạn, cảm ơn bạn đã có sự quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Đối với nội dung thắc mắc của bạn, chúng tôi xin trả lời như sauTheo định nghĩa tại điểm g khoản 1 Điều 4 Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015 “Đương sự gồm nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự.”. Pháp luật định nghĩa rất đầy đủ về các chủ thể được gọi chung là đương sự trong vụ án hình đơn dân sự, bị đơn dân sự là ai?Khoản 1 Điều 63 Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015 định nghĩa “Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại.”Trong khi đó, bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bao gồm những ai?Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 cũng định nghĩa về người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tại khoản 1 Điều 65 “là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự.”Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án hình sựCác đương sự đều phải thực hiện đầy đủ 03 nghĩa vụ chính khi tham gia vụ án hình nhất, có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố hai, trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến việc bồi thường thiệt hại; đến quyền và nghĩa vụ của ba, Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố của nguyên đơn dân sựTheo quy định tại khoản 2 Điều 63 Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015, nguyên đơn dân sự có các quyền sau“a Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;b Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;c Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;d Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án;đ Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật;e Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;g Đề nghị mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường;h Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn; xem biên bản phiên tòa;i Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;k Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;l Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần bồi thường thiệt hại;m Các quyền khác theo quy định của pháp luật.”Đương sự trong vụ án hình sự có quyền gì?Quyền của bị đơn dân sựTương tự nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự cũng có các quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 65 Bộ Luật Tố tụng dân sự trong đó có điểm khác biệt như “Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn dân sự.”Quyền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quanTheo quy định tại khoản 2 Điều 65 Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015“Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện của họ có quyềna Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;b Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;c Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật;d Tham gia phiên tòa; phát biểu ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi những người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa;đ Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;e Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;g Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình;h Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;i Các quyền khác theo quy định của pháp luật.”Trên đây là nội dung tư vấn của Luật sư Hoàng về việc người bị tạm giữ có các quyền nào? Đừng ngần ngại mà hãy chủ động liên hệ và trao đổi cùng luật sư để được tư vấn chuyên sâu, đưa ra phương án giải quyết tối ưu những vướng mắc pháp lý mà Quý vị đang gặp có thể tìm hiểu kỹ hơn về các vấn đề này, bạn có thể trực tiếp trao đổi với Luật sư Hoàng thông qua các phương thức liên hệ dưới [email protected]Ngoài ra, bạn có thể gặp trực tiếp Luật sư Nguyễn Đức Hoàng tại Văn phòng Luật sư tố tụngĐịa chỉ 38 Phan Khiêm Ích, Phường Tân Phong, Quận 7, TP. Hồ Chí MinhGiờ làm việc Thứ 2 – thứ 6 8 giờ – 17 giờ 30
đương sự trong vụ án hình sự